<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Information Literacy</title>
	<atom:link href="http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://infolit.vietnamlib.net</link>
	<description>Hỗ trợ phát triển năng lực thông tin cho mọi người</description>
	<lastBuildDate>Fri, 20 Apr 2012 04:21:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.5.1</generator>
		<item>
		<title>Protected: Tài liệu và thông tin về khóa tập huấn tại Đà Nẵng 2012</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1130</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1130#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Apr 2012 02:39:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1130</guid>
		<description><![CDATA[There is no excerpt because this is a protected post.]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<form action="http://infolit.vietnamlib.net/wp-login.php?action=postpass" method="post">
<p>This post is password protected. To view it please enter your password below:</p>
<p><label for="pwbox-1130">Password: <input name="post_password" id="pwbox-1130" type="password" size="20" /></label> <input type="submit" name="Submit" value="Submit" /></p>
</form>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1130</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đánh giá thông tin trên Internet</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1128</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1128#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Apr 2012 09:28:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Học liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu hướng dẫn & thực hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu thực hành]]></category>
		<category><![CDATA[tìm kiếm thông tin]]></category>
		<category><![CDATA[đánh giá thông tin]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1128</guid>
		<description><![CDATA[Sự bùng nổ của Internet và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin – truyền thông đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người trở thành các nhà cung cấp thông tin. Thế giới thông tin trở &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=1128">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><img class="alignleft" title="danh gia thong tin" src="http://researchland.net/vnl/wp-content/uploads/2010/04/1180239_internet_and_future___.jpg" alt="" width="300" height="168" />Sự bùng nổ của Internet và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin – truyền thông đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người trở thành các nhà cung cấp thông tin. Thế giới thông tin trở nên đa dạng và phong phú hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, đi cùng với sự nở rộ của blog, wiki,và các kênh xuất bản online khác nhau là một thực tế không thể tránh khỏi: thông tin trở nên hỗn tạp và người dùng tin có thể phải trả giá cho việc sử dụng thông tin thiếu chất lượng, thiếu độ tin cậy, thậm chí sai lạc.</p>
<p>Bài viết này là một hướng dẫn ngắn gọn giúp người dùng tin có cách tiếp cận các nguồn thông tin tìm được  trên Internet một cách đúng đắn và sử dụng những thông tin đó một cách hợp lý.</p>
<p>Khi quyết định sử dụng một nguồn tin nào đó tìm được trên Internet, người dùng tin nên xem xét <strong>10 điểm quan trọng</strong> dưới đây. Tác giả không cung cấp câu trả lời cho mỗi câu hỏi, vì điều đó phụ thuộc vào mục tiêu và cách thức sử dụng thông tin của người dùng tin. Nói cách khác, đây là những gợi ý về những điều người dùng tin cần cân nhắc khi sử dụng một nguồn tài liệu online.</p>
<p><strong>1. Kiến thức của bạn</strong></p>
<p>- Nguồn tin mới này khác gì so với những thông tin mà bạn đã biết?</p>
<p>- Thông tin đó tác động như thế nào đến những gì bạn đã biết?</p>
<p><strong>2. Tác giả</strong></p>
<p>- Ai cung cấp nguồn tin đó? Là người quản trị website hay một tác giả độc lập?</p>
<p>- Thông tin về tác giả nguồn tin đó ở đâu?</p>
<p>- Bạn có thể liên hệ được với tác giả không?</p>
<p>- Tác giả có đưa ra các thông tin về nghề nghiệp, kinh nghiệm, chức vụ, quá trình đào tạo, hay những thông tin chứng thực nào khác?</p>
<p>- Nếu là website của một tổ chức/cơ quan thì tên của tổ chức/cơ quan có được nêu rõ trong tài liệu? Tổ chức đó có được thừa nhận trong lĩnh vực mà bạn đang nghiên cứu/tìm hiểu? Có những dấu hiệu gì chứng tỏ tài liệu đó có nguồn gốc từ một website học thuật chính thức hay của một tổ chức khoa học? Bạn có thể liên hệ với người quản trị website từ tài liệu đó hay không?</p>
<p>- Hãy kiểm tra tên miền của tài liệu, hãy ưu tiên nhiều hơn tới các tên miền có phần mở rộng là .edu, .gov, .org, hay .net.</p>
<p><strong>3. Tính cập nhật</strong></p>
<p>- Lần cuối thông tin này được xuất bản hay cập nhật là khi nào?</p>
<p>- Tài liệu đó có thể hiện những thông tin về những vấn đề hiện tại?</p>
<p><strong>4. Tính khách quan</strong></p>
<p>- Tác giả có cung cấp các luận điểm và ví dụ nhằm chứng minh cho các quan điểm của họ?</p>
<p>- Bạn nghĩ vì sao tác giả lại cung cấp thông tin đó?</p>
<p>- Mục tiêu/mục đích của tài liệu đó là gì? Đối tượng sử dụng của tài liệu đó là ai?</p>
<p>- Tác giả đã thể hiện những quan điểm gì (nếu có)?</p>
<p>- Tác giả có tham chiếu đầy đủ và đúng cách đến những nguồn tài liệu tham khảo mà tài liệu đó sử dụng?</p>
<p><strong>5. Phạm vi thông tin</strong></p>
<p>- Mức độ chi tiết của thông tin như thế nào?</p>
<p>- Độ rộng của phạm vi chủ đề mà tài liệu đó thể hiện?</p>
<p>- Độ sâu của thông tin đó ra sao?</p>
<p><strong>6. Hình thức</strong></p>
<p>- Thông tin đó được trình bày dưới hình thức nào?</p>
<p>- Đó là một trang web dạng www, một đề mục chủ đề, một file văn bản, một bài viết của nhóm tin tức, một nhật ký cá nhân (blog), một diễn đàn trực tuyến, hay một nội dung thư điện tử?</p>
<p>- Tài liệu đó dạng chữ, hình ảnh, hay/hoặc dạng âm thanh?</p>
<p><strong>7. Mức độ rõ ràng</strong></p>
<p>- Thông tin đó có được trình bày một cách rõ ràng?</p>
<p>- Có được tổ chức tốt?</p>
<p>- Giao diện có thân thiện với người dùng?</p>
<p><strong>8. Sự khuyến cáo từ những người khác</strong></p>
<p>- Bạn có nhận được khuyến cáo/giới thiệu nào từ những người mà bạn tôn trọng (bạn bè, giáo viên, cán bộ thư viện, hoặc người thân gia đình …) rằng đây là một nguồn thông tin tốt?</p>
<p><strong>9. Tính hợp thức</strong></p>
<p>- Bạn thấy mức độ đúng đắn của thông tin này như thế nào?</p>
<p>- Điều gì khiến bạn nghĩ như vậy?</p>
<p><strong>10. Độ quan trọng</strong></p>
<p>- Đây có phải là thong tin quan trọng đối với bạn không?</p>
<p>- Nếu phải, vì sao nó lại quan trọng?</p>
<p>Tùy theo yêu cầu, mục tiêu, và cách thức sử dụng, bạn hãy đưa ra quyết định một cách sáng suốt. Khi xem xét những vấn đề nêu trên và trả lời các câu hỏi trong mỗi vấn đề đó tức là bạn đã thực hiện việc đánh giá thông tin online một cách khách quan. Bạn cần/nên/phải là người đưa ra quyết định cuối cùng cho việc sử dụng thông tin của mình.</p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>Nghiêm Xuân Huy (VietnamLib.Net)</strong></em></p>
<p><strong>Tài liệu tham khảo (và đọc thêm)</strong></p>
<p>http://www.library.jhu.edu/researchhelp/general/evaluating/index.html</p>
<p>http://www.vuw.ac.nz/staff/alastair_smith/EVALN/EVALN.HTM</p>
<p>http://www.library.cornell.edu/olinuris/ref/research/webcrit.html</p>
<p>http://www.teachercertification.org/teach/evaluation-techniques-of-Internet-resources.php</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1128</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến kiến thức thông tin ở Việt Nam</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1111</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1111#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Apr 2012 13:57:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Tổng quan - Lý thuyết]]></category>
		<category><![CDATA[Lý thuyết]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1111</guid>
		<description><![CDATA[Kiến thức thông tin (KTTT) là một thuật ngữ, khái niệm rất mới đối với nhiều người làm công tác thư viện-thông tin ở Việt Nam. Đầu những năm 2000, tác giả Nguyễn Hoàng Sơn, giảng viên Khoa Thông tin-Thư &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=1111">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><img class="alignleft size-medium wp-image-1117" title="IMG_3039" src="http://infolit.vietnamlib.net/wp-content/uploads/2012/04/IMG_3039-300x198.jpg" alt="" width="300" height="198" />Kiến thức thông tin (KTTT) là một thuật ngữ, khái niệm rất mới đối với nhiều người làm công tác thư viện-thông tin ở Việt Nam. Đầu những năm 2000, tác giả Nguyễn Hoàng Sơn, giảng viên Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV ĐHQG Hà Nội đã công bố một bài báo được chuẩn bị khá công phu về vấn đề này [6]. Có thể đây là bài báo đầu tiên chính thức đưa khái niệm này vào từ vựng ngành thư viện-thông tin nước ta. Sau đó, một số công trình nghiên cứu của sinh viên cũng đã đề cập đến chủ đề KTTT [1,10,13]. Đặc biệt năm 2002, Khoa Thông tin-Thư viện Đại học KHXH&amp;NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phối hợp với IFLA tổ chức một hội thảo về KTTT với sự tham gia của nhiều nhà khoa học thế giới và Việt Nam. Những hoạt động như thế đã thúc đẩy việc nghiên cứu và phổ biến KTTT ở nước ta. Bài viết này mong muốn làm rõ thêm đôi nét về nguồn gốc, nội hàm và tầm quan trọng của KTTT.</p>
<p><strong>1. Về khái niệm Information Literacy</strong></p>
<p>Cho đến nay, khái niệm Information Literacy được hiểu và dịch ra tiếng Việt rất khác nhau. Nhiều người dịch là kiến thức thông tin, có người lại đánh đồng nó với kỹ năng thông tin. Chẳng hạn, trong bài tham luận &#8220;Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm thông tin-thư viện, ĐHQGHN” của TS. Nguyễn Huy Chương và CN. Nguyễn Thanh Lý không thấy nêu ra định nghĩa về khái niệm kiến thức thông tin (mặc dù có từ viết tắt KTTT) mà chỉ có khái niệm về kỹ năng thông tin &#8220;Kỹ năng thông tin là tập hợp các yêu cầu về khả năng nhận biết thông tin cần thiết, xác định, đánh giá và sử dụng một cách hiệu quả các thông tin cần thiết” [7]. Nếu đem những khả năng này so sánh với những khả năng của những người có kiến thức thông tin được trình bày trong các tài liệu thì khá tương đồng. Có người lại sử dụng nguyên bản tiếng Anh của từ này để trình bày các bài báo bằng tiếng Việt [3]. Trong những cuộc trao đổi cá nhân giữa tác giả với ông Nguyễn Hữu Viêm, một người có nhiều công trình nghiên cứu về thư viện học, ông Viêm cho rằng, thuật ngữ Information Literacy nên dịch là &#8220;xóa mù thông tin” vì Literacy cũng có một nghĩa là xóa mù. Bản thân tác giả bài viết này cũng rất muốn mở rộng khái niệm này ra thành &#8220;kiến thức thông tin-thư viện” vì những nội dung cơ bản của KTTT mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới cũng là kiến thức thư viện-thư mục trước kia. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng Information Literacy được hiểu và dịch thành kiến thức thông tin là hợp lý hơn cả.</p>
<p><strong>2. Quá trình hình thành khái niệm kiến thức thông tin</strong></p>
<p>Trên thế giới, việc nghiên cứu về kiến thức thông tin đã được tiến hành từ giữa những năm 1970 [3,5,12]. Càng về sau mức độ nghiên cứu càng tăng lên. Hoa Kỳ là nước đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về KTTT. Rất nhiều hội nghị, hội thảo đã được tổ chức ở các nước, các khu vực, qui mô quốc tế về vấn đề này. Ở khu vực Đông Nam Á, năm 2004 Thư viện ĐH Brunei Darussalam phối hợp với Hội Thư viện Brunei đã tổ chức một hội thảo về KTTT với sự tham dự của nhiều nước trong khu vực. Trong tổ chức IFLA cũng có những thay đổi ứng với sự quan tâm về KTTT. Năm 2001, tại hội nghị hàng năm ở Boston, Hoa Kỳ, IFLA đã đổi tên Bàn tròn về đào tạo người dùng tin thành Tiểu ban Kiến thức Thông tin. Từ đó đến nay, Tiểu ban này đã có nhiều hoạt động để phổ biến KTTT trên toàn thế giới, trong đó có dự định sử dụng chứng chỉ quốc tế về KTTT [2]. UNESCO cũng quan tâm tới vấn đề phổ biến KTTT trên phạm vi toàn cầu với những chương trình hoạt động hết sức phong phú. Ở đây chúng tôi chỉ nhấn mạnh một sự kiện, mà kết quả của nó đã cho phép giải quyết nhiều vấn đề liên quan tới KTTT. Sự kiện đó là, vào tháng 9 năm 2003, dưới sự tài trợ của UNESCO, UB quốc gia về khoa học thư viện và thông tin và Diễn đàn quốc gia về KTTT (Hoa Kỳ) đã tổ chức hội thảo bàn về KTTT. Hội thảo này đã ra một tuyên bố, gọi là Tuyên bố Praha: Tiến tới xã hội KTTT (The Prague Declaration: Towards an Information Literate Society). Điều đáng chú ý là, Tuyên bố Praha đã đưa ra 6 nguyên tắc cơ bản của KTTT. Đó là:</p>
<blockquote><p>1. Việc hình thành xã hội thông tin là chìa khóa cho sự phát triển xã hội, văn hóa, kinh tế của các dân tộc và các cộng đồng, các thiết chế và các cá nhân trong thế kỷ XXI và những năm tiếp theo.</p>
<p>2. KTTT bao gồm kiến thức về nhu cầu và yêu cầu tin, khả năng xác định, định vị, đánh giá, tổ chức và sáng tạo, sử dụng có hiệu quả và truyền thông tin tới các địa chỉ. Đây là điều kiện đầu tiên để tham gia có hiệu quả vào xã hội thông tin và là một phần trong quyền cơ bản của con người được học tập suốt đời.</p>
<p>3. KTTT, trong quan hệ với sự tiếp cận tới các thông tin cần thiết và sử dụng có hiệu quả thông tin và công nghệ truyền thông, sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc thủ tiêu các bất công bên trong và giữa các quốc gia, dân tộc và trong việc khuyến khích lòng khoan dung, hiểu biết lẫn nhau thông qua việc sử dụng thông tin trong ngữ cảnh đa văn hóa và đa ngôn ngữ.</p>
<p>4. Các chính phủ cần phát triển các chương trình liên ngành rộng lớn để khuyếch trương KTTT trên phạm vi cả nước như là bước đi cần thiết để loại bỏ sự cách biệt về số hóa thông qua việc tạo lập tính công dân ở KTTT, xã hội dân sự có hiệu quả và lao động có tính cạnh tranh.</p>
<p>5. KTTT là nhu cầu của mọi khu vực xã hội và mỗi khu vực có nhu cầu phù hợp với nhu cầu và ngữ cảnh đặc thù của mình.</p>
<p>6. KTTT là một bộ phận quan trọng của Chương trình Giáo dục dành cho mọi người mà nó có thể đóng góp vào sự thành công của các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của LHQ và thực hiện Tuyên bố toàn cầu về quyền con người .</p></blockquote>
<p><strong>3. Nội dung của kiến thức thông tin</strong></p>
<p>Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam [3,5,6,7,8,9,11,12] đã nêu được nội dung của KTTT mà chủ yếu dựa theo quan điểm của Viện KTTT của Oxtralia và New Zealand, của Hiệp hội các thư viện đại học và nghiên cứu Hoa Kỳ,&#8230;. Từ những gì trình bày trong các công trình đó và căn cứ vào nguyên tắc thứ 2 của Tuyên bố Praha nêu trên, có thể xác định nội dung của khái niệm KTTT gồm những thành phần sau:</p>
<p>- Nắm bắt nhu cầu và yêu cầu tin của người dùng: Đây là yêu cầu đầu tiên và cốt yếu của công tác thông tin-thư viện. Để nắm bắt nhu cầu tin các thư viện, cơ quan thông tin phải thường xuyên tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin của toàn bộ dân cư, của một nhóm đối tượng và của cả từng cá nhân. Cá nhân người sử dụng thông tin, cũng có thể tự xác định được nhu cầu, yêu cầu tin của mình trong từng giai đoạn, thậm chí từng thời khắc.</p>
<p>- Xác định, định vị thông tin: từ yêu cầu tin cụ thể của người dùng, xác định xem những tài liệu nào, hiện đang lưu giữ ở đâu (cả trong nước và nước ngoài có thể thỏa mãn được (các) yêu cầu đó. Để làm việc đó, không gì thuận tiện hơn là sử dụng các công cụ tìm tin của thư viện, của cơ quan thông tin, nhất là sử dụng Internet,&#8230;.</p>
<p>- Đánh giá thông tin: người cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin sẽ đánh giá mức độ phù hợp của những thông tin nhận được, đọc được với yêu cầu lúc đầu. Đánh giá sẽ rất có giá trị nếu kèm theo những nhận xét khách quan về tính khoa học, thực tiễn của các thông tin được cung cấp.</p>
<p>- Tổ chức thông tin: chọn lọc và tổ chức thông tin theo mục đích sử dụng của mỗi người. Đối với cơ quan thông tin, thư viện &#8211; đó là cặp chuyên đề, mục lục chuyên đề, tổng quan,&#8230; Đối với cá nhân người sử dụng &#8211; đó là các bài tóm tắt, các đoạn trích, các bài tổng luận, bài báo, bài nghiên cứu,&#8230;</p>
<p>- Sáng tạo thông tin: người sử dụng thông tin phải tiến hành so sánh, đối chiếu, phê phán các thông tin vừa nhận được với các tri thức, thông tin, lý luận, học thuyết,&#8230; đã có để đưa ra những thông tin mới, hình thành tri thức mới và ở mức cao hơn- lý luận, học thuyết mới.</p>
<p>- Sử dụng có hiệu quả thông tin: vận dụng những thông tin nhận được cùng với những thông tin mới do mình tạo ra để giải quyết những vấn đề thực tiễn của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, xã hội. Đây là điều kiện để thẩm định các thông tin, tri thức mới nhận được hay mới sáng tạo nên.</p>
<p>- Truyền thông tin tới các địa chỉ cần thiết: truyền những thông tin vừa nhận được cũng như vừa tạo ra đã hoặc chưa qua kiểm chứng đến những cá nhân, tổ chức có nhu cầu để từ đó nhân rộng ra trong xã hội.<br />
Căn cứ nội dung của KTTT nêu trên, có thể khẳng định rằng, tuy KTTT là một thuật ngữ mới nhưng nội hàm của nó lại rất quen thuộc. Bởi vì, phần lớn nội dung của khái niệm này trùng hợp với khái niệm trước đó đã sử dụng rộng rãi trong tài liệu nghiệp vụ thư viện của nước ta và quốc tế: kiến thức thư viện-thư mục [4]. Điều này cũng đã được tác giả Nguyễn Hoàng Sơn nhắc đến trong bài viết của mình: vào cuối thập niên 1980, các nhà thư viện ở các trường học đã chuyển khái niệm kiến thức thư viện thành KTTT [6]. Tất nhiên, vốn tri thức của khái niệm này càng ngày càng phong phú hơn do được bổ sung các nội dung mới. Từ nội dung trên, để dễ thao tác trong giảng dạy và thực hành, chúng tôi xin chia KTTT ra làm 2 lĩnh vực: hiểu biết (kiến thức, lý luận) và thực hành (kỹ năng).</p>
<p>Về hiểu biết: Phải có hiểu biết về:</p>
<p>- Quá trình hình thành thông tin, tri thức; vai trò của thông tin, tri thức trong đời sống mỗi người và trong toàn xã hội;</p>
<p>- Thư viện, cơ quan thông tin, trong đó bao gồm cả những hiểu biết về mạng lưới thư viện, thông tin của đất nước (vùng, huyện, tỉnh), của thế giới, đặc biệt là của thư viện, cơ quan thông tin cụ thể nơi bạn đọc đang sử dụng;</p>
<p>- Những nhu cầu và yêu cầu tin của mỗi người, mỗi cộng đồng, tập thể;</p>
<p>- Vốn tài liệu-thông tin, các dịch vụ, sản phẩm thư viện-thông tin của từng thư viện và của cả ngành thư viện-thông tin trong cả nước;</p>
<p>- Bộ máy tra cứu-tìm tin truyền thống và hiện đại;</p>
<p>- Các công cụ, chiến lược tìm và các phương pháp tìm tin;</p>
<p>- Tin học, Internet, web, tuy nhiên chỉ ở mức kiến thức về lưu trữ, tìm và khai thác tin trên mạng;</p>
<p>- Pháp luật thư viện, luật bản quyền.</p>
<p>Về kỹ năng</p>
<p>- Kỹ năng nghiên cứu nhu cầu tin của toàn xã hội, của tập thể, nhóm người, của từng cá nhân ;</p>
<p>- Kỹ năng biết định hướng trong các bộ máy tra cứu-tìm tin của các thư viện và cơ quan thông tin trong và ngoài nước ;</p>
<p>- Kỹ năng tìm kiếm thông tin bằng phương pháp truyền thống và hiện đại;</p>
<p>- Các phương pháp làm việc với vật mang tin khác nhau, kỹ thuật đọc để thu nhận thông tin từ những gì đã đọc,&#8230;</p>
<p>- Các kỹ năng nghiên cứu và đánh giá thông tin thông qua công tác xử lý, đánh giá, tổng hợp và phân tích tin;</p>
<p>- Kỹ năng truyền đạt, phổ biến thông tin;</p>
<p>- Kỹ năng tạo lập các sản phẩm thông tin, thư viện đặc biệt như cách lập bản thư mục, giới thiệu sách, biên soạn bài tóm tắt, các bài tổng luận,&#8230;</p>
<p>Tất nhiên, còn có thể liệt kê thêm nhiều vấn đề cần hiểu biết, nhiều kỹ năng cần nắm vững của một người được gọi là có kiến thức thông tin. Ngoài ra, trong mỗi nội dung đã nêu còn có thể nêu ra những vấn đề nhỏ hơn.</p>
<p><strong>4. Tầm quan trọng của kiến thức thông tin</strong></p>
<p>KTTT có tầm quan trọng hết sức to lớn, bởi lẽ, KTTT:</p>
<p>- Là một bộ phận quan trọng của Chương trình Giáo dục dành cho mọi người; là điều kiện quan trọng để giáo dục đạt hiệu quả và chất lượng cao;</p>
<p>- Là điều kiện đầu tiên để mọi người tham gia có hiệu quả vào xã hội thông tin và là yếu tố để con người thực hiện quyền được học tập suốt đời;</p>
<p>- Là yếu tố để mọi người tiếp nhận và khai thác thông tin đã có của loài người và sáng tạo nhanh với chất lượng cao hơn tri thức mới do biết tiếp thu, kế thừa các kiến thức đã có của các dân tộc trên thế giới;</p>
<p>+ Giúp mọi người tiếp cận, sử dụng thông tin của các dân tộc khác nhau và do đó có điều kiện phát triển nhanh hơn, nhờ đó loại bỏ được những bất công bên trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia, dân tộc, đồng thời giúp cho các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, tạo nên nền hòa bình bền vững giữa các quốc gia, dân tộc.</p>
<p><strong>5. Suy nghĩ về việc phổ biến kiến thức thông tin cho người dân</strong></p>
<p>- Chính phủ cần xây dựng các chương trình để phổ biến KTTT trên phạm vi cả nước, cho mọi người, cho mọi khu vực kinh tế, xã hội khác nhau. Khi xây dựng các chương trình như vậy, cần chú ý đến đặc điểm, nhu cầu đặc thù của mỗi khu vực xã hội, mỗi loại người dùng khác nhau;</p>
<p>- Đây là công việc cần thiết và cấp bách, đặc biệt khi nước ta đang tiến hành việc ứng dụng CNTT một cách rộng khắp;</p>
<p>- Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã có chương trình đào tạo người dùng tin nhưng chủ yếu chỉ trong các trường đại học. Kết quả là, mới có một bộ phận rất nhỏ dân cư được đào tạo về sử dụng thư viện, thông tin.<br />
Phương hướng tới đây là đào tạo KTTT cho mỗi người dân kể từ lúc bước vào học lớp 1. Những việc cần làm để có thể đạt được điều đó là:</p>
<p>- Giao cho các thư viện, cơ quan thông tin nhiệm vụ đào tạo người dùng tin.</p>
<p>- Biên soạn tài liệu về KTTT cho người dùng thuộc mọi lứa tuổi và nghề nghiệp. Việc này có thể do Thư viện Quốc gia Việt Nam hoặc một trường đào tạo đại học ngành thư viện-thông tin nào đó đảm nhiệm. Tài liệu sẽ chỉ gồm những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất của KTTT. Tài liệu chi tiết hơn sẽ do các trung tâm đào tạo (thư viện, trung tâm thông tin, các trường đào tạo ngành thư viện-thông tin,&#8230;), căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng nơi, biên soạn.</p>
<p>- Nhà nước cần cấp cho các thư viện, cơ quan thông tin một khoản kinh phí hàng năm để làm công việc này.</p>
<p>- Các thư viện lớn, các cơ sở đào tạo ngành thw viện-thông tin cần có những bộ phận nghiên cứu và giảng dạy về KTTT.</p>
<p>Tóm lại, cùng với sự tạo lập và phát triển của xã hội thông tin, vai trò của KTTT ngày càng lớn mạnh. Các thư viện, cơ quan thông tin khoa học Việt Nam cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và đạo tạo KTTT không chỉ cho những người dùng của thư viện, cơ quan thông tin mà cho mọi người dân Việt Nam.</p>
<p><strong>Tài liệu tham khảo</strong></p>
<p>1. Bùi Thị Ngọc Oanh. Sự phát triển của kiến thức thông tin trong xã hội thông tin // Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên chuyên ngành thông tin-thư viện lần thứ 6 Bộ môn thông tin-thư viện ĐHKHXH&amp;NV ĐHQGHN. &#8211; H.:.2002 (in máy tính). &#8211; Tr. 520 &#8211; 526.</p>
<p>2. Edzan N.N. Information literacy initiatives in Malaysia: a framework for implementation / Nor Edzan Che Nasir, Mohd Sharif Mord Saad // The Visible librarian in the Virtual World: Proceedings of PPM-LAS commemorative conference: Kuala Lumpur 6 &#8211; 8 April 2005. – Tr. 77 – 89.</p>
<p>3. Huỳnh Đình Chiến. Bước đầu giới thiệu Information Literacy vào việc đổi mới phương pháp dạy / học và công tác nghiên cứu khoa học tại Đại học Huế / Huỳnh Đình Chiến, Huỳnh Thị Xuân phương // Ngành thông tin &#8211; thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 84 &#8211; 91.</p>
<p>4. Lê Văn Viết. Tuyên truyền kiến thức thư viện &#8211; thư mục // Cẩm nang nghề thư viện. &#8211; H.:VHTT, 2000. &#8211; Tr.</p>
<p>5. Nghiêm Xuân Huy. Kiến thức thông tin với giáo dục đại học // Ngành thông tin &#8211; thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin &#8211; Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 135 &#8211; 144.</p>
<p>6. Nguyễn Hoàng Sơn. Tìm hiểu khái niệm kiến thức thông tin góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân chuyên ngành khoa học thông tin &#8211; thư viện // Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành thông tin &#8211; thư viện lần thứ nhất nhân dịp 5 năm thành lập bộ môn thông tin-thư viện ĐHKHXH&amp;NV ĐHQGHN. &#8211; H.: NXB ĐHQGHN, 2001. &#8211; Tr. 86 &#8211; 109.</p>
<p>7. Nguyễn Huy Chương. Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm thông tin-thư viện, ĐHQGHN / Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Thanh Lý // Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin &#8211; Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 92.</p>
<p>8. Nguyễn Văn Hành. Vài suy nghĩ về trang bị “kiến thức thông tin” cho sinh viên trong các trường đại học Việt Nam // Ngành thông tin &#8211; thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 104 &#8211; 107.</p>
<p>9. Tô Thị Hiền. Tăng cường kiến thức thông tin cho sinh viên &#8211; giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học // Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 108 &#8211; 114.</p>
<p>10. Trần Bích Diệp. Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa kiến thức thông tin và công nghệ thông tin / Trần Bích Diệp, Nguyễn Thị Trang Nhung // Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên chuyên ngành thông tin &#8211; thư viện lần thứ 6 Bộ môn thông tin-thư viện ĐHKHXH&amp;N V ĐHQGHN. &#8211; H.:.2002 (in máy tính). &#8211; Tr. 491 &#8211; 496.</p>
<p>11. Trần Thị Quý. Kiến thức thông tin – lượng kiến thức cần có cho người dùng tin trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay // Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 168 &#8211; 172.</p>
<p>12. Trần Thị Quý. Đổi mới nội dung, chương trình phương pháp đào tạo ngành thông tin &#8211; thư viện &#8211; yếu tố quan trọng để nâng cao kiến thức thông tin cho học viên / Trần Thị Quý, Nguyễn Thị Thúy Hạnh // Ngành thông tin-thư viện trong xã hội thông tin: kỷ yếu hội thảo khoa học. &#8211; H.: Khoa Thông tin-Thư viện ĐHKHXH&amp;NV, ĐHQGHN, 2006. &#8211; Tr. 173 &#8211; 178.</p>
<p>13. Vũ Quỳnh Nhung. Tìm hiểu kiến thức thông tin và vai trò của kiến thức thông tin trong giáo dục đào tạo // Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên chuyên ngành thông tin-thư viện lần thứ 6 Bộ môn thông tin-thư viện ĐHKHXH&amp;NV ĐHQGHN. &#8211; H.:.2002 (in máy tính). &#8211; Tr. 514 &#8211; 519</p>
<p style="text-align: right;"><strong>TS. Lê Văn Viết (tạp chí Thông tin  &#8211; Tư liệu, số 3/2008)</strong></p>
<table width="100%" cellspacing="5" cellpadding="2">
<tbody>
<tr>
<td nowrap="nowrap"></td>
<td width="2"></td>
<td width="100%"></td>
</tr>
<tr>
<td nowrap="nowrap"></td>
<td width="2"></td>
<td width="100%"></td>
</tr>
<tr>
<td nowrap="nowrap"></td>
<td width="2"></td>
<td width="100%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1111</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>The Big 6 – Mô hình giải quyết vấn đề thông tin</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1108</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1108#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Apr 2012 13:38:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Học liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu hỗ trợ giảng dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Big 6]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1108</guid>
		<description><![CDATA[&#160; The Big 6 là một mô hình và  khung chương trình phát triển kiến thức/năng lực thông tin, được triển khai ở hàng ngàn trường học (từ bậc phổ thông đến đại học). Một số người cho rằng The &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=1108">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><a href="http://researchland.net/vnl/wp-content/uploads/2009/09/straub_big61.gif"><img title="straub_big6" src="http://researchland.net/vnl/wp-content/uploads/2009/09/straub_big61.gif" alt="" width="638" height="427" /></a></p>
<p>The Big 6 là một mô hình và  khung chương trình phát triển kiến thức/năng lực thông tin, được triển khai ở hàng ngàn trường học (từ bậc phổ thông đến đại học). Một số người cho rằng The Big 6 là một chiến lược giải quyết vấn đề thông tin, bởi vì với The Big 6, sinh viên có thể xử lý bất kỳ vấn đề, bài tập, nhiệm vụ, hay quyết định nào. (theo http://www.big6.com/what-is-the-big6/ )</p>
<p>VietnamLib trân trọng giới thiệu với quý đồng nghiệp tài liệu &#8220;The Big 6 – Mô hình giải quyết vấn đề thông tin&#8221; được dịch sang tiếng Việt bởi ThS. Huỳnh Thị Trúc Phương, giảng viên khoa Thông tin – Thư viện, Trường ĐH KHXH&amp;NV, ĐH Cần Thơ. Nguyên văn bằng tiếng Anh xin mời quý đồng nghiệp xem tại địa chỉ: http://www.librarianonfire.com/projects/informationliteracy/big6_presentation2.htm</p>
<p>Đây là một tài liệu đặc biệt hữu ích đối với các thư viện đang triển khai các chương trình đào tạo, trong đó hướng đến việc phát triển kiến thức/năng lực thông tin, cho người dùng tin.</p>
<p>Toàn văn bài viết bằng tiếng Việt được gửi theo file đính kèm sau đây: <a href="http://vietnamlib.net/wp-content/uploads/2009/09/227_VN_The-Big-6-and-Information-Literacy.pdf">The Big 6 and Information Literacy</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1108</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phát triển năng lực thông tin ở các cơ quan TTTV phục vụ nghiên cứu giáo dục và đào tạo</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1105</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1105#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Apr 2012 13:35:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Tổng quan - Lý thuyết]]></category>
		<category><![CDATA[Lý thuyết]]></category>
		<category><![CDATA[viện khoa học giáo dục]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1105</guid>
		<description><![CDATA[Song song với việc xây dựng nguồn lực thông tin (nguồn tin, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực …) thì việc hỗ trợ và đào tạo người dùng tin là một yếu tố đặc biệt quan trọng để tăng &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=1105">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div>
<p><img class="alignleft" title="1239803_girl_drawing_back_to_school" src="http://vietnamlib.net/wp-content/uploads/2011/09/1239803_girl_drawing_back_to_school.jpg" alt="" width="300" height="201" /></p>
<p>Song song với việc xây dựng nguồn lực thông tin (nguồn tin, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực …) thì việc hỗ trợ và đào tạo người dùng tin là một yếu tố đặc biệt quan trọng để tăng cường tính hiệu quả của các dịch vụ thông tin phục vụ nghiên cứu đào tạo. Trong thời đại số hóa và xã hội mạng như hiện nay, việc phát triển năng lực thông tin (information literacy) cho các cá nhân trong mỗi bối cảnh cộng đồng lại càng trở nên quan trọng. Bài viết này hướng vào việc phân tích mối quan hệ khăng khít giữa việc phát triển năng lực thông tin cho người dùng tin và vấn đề phát triển nguồn lực thông tin ở các cơ quan thông tin thư viện phục vụ nghiên cứu đào tạo, qua đó đề xuất những hướng triển khai phát triển năng lực thông tin dựa trên đặc thù của cộng đồng người dùng tin và thực trạng nguồn lực thông tin của mỗi cơ quan thông tin thư viện.</p>
<p>Mục đích của báo cáo này là nhằm đóng góp một cách tiếp cận từ góc độ đào tạo người dùng tin trong bối cảnh của kỷ nguyên số hóa, nhằm góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin ở các cơ quan thông tin thư viện phục vụ nghiên cứu giáo dục.</p>
<p>Bài viết gồm 3 phần. Phần đầu sẽ hướng vào việc phân tích khái niệm về năng lực thông tin và đặc thù của việc phát triển năng lực thông tin trong các cơ quan thông tin thư viện phục vụ công tác nghiên cứu giáo dục. Phần hai tập trung làm rõ mối quan hệ của việc phát triển năng lực thông tin với việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong bối cảnh của các cơ quan thông tin thư viện phục vụ nghiên cứu giáo dục. Ở phần cuối, báo cáo này đưa ra những đề xuất trong việc phát triển năng lực thông tin cho cộng đồng người dùng tin ở các cơ quan thông tin thư viện nói trên.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Từ khóa:</span></strong> năng lực thông tin; kiến thức thông tin; information literacy; đào tạo người dùng tin; phát triển dịch vụ thông tin; thông tin phục vụ nghiên cứu giáo dục.</p>
<p><em>VietnamLib xin trân trọng giới thiệu bài viết này của ThS. Nghiêm Xuân Huy, giảng viên Trường ĐH KH XH&amp; NV, ĐH QG Hà Nội. Bài viết được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo  “Tăng cường dịch vụ thông tin phục vụ nghiên cứu giáo dục trong thời đại số hoá” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Đại học bang St Jose (Hoa Kỳ) tổ chức (tháng 9/2011)</em></p>
<p><em>Đọc toàn văn bài viết theo đường link sau: </em><a href="http://vietnamlib.net/wp-content/uploads/2011/09/NghiemXuanHuy.toanvan.vie_.pdf">NghiemXuanHuy.toanvan.vie</a></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1105</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vai trò của năng lực thông tin đối với cán bộ nghiên cứu khoa học</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1103</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=1103#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Apr 2012 13:32:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Tổng quan - Lý thuyết]]></category>
		<category><![CDATA[Vấn đề thời sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://infolit.vietnamlib.net/?p=1103</guid>
		<description><![CDATA[Từ lâu, Việt Nam đã xác định chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược phát triển khoa học công nghệ nói riêng là hướng vào việc tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=1103">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Từ lâu, Việt Nam đã xác định chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược phát triển khoa học công nghệ nói riêng là hướng vào việc tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới, đi tắt đón đầu để bắt kịp trình độ phát triển chung của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là một chiến lược đúng đắn, phù hợp với điều kiện và vị thế kinh tế của Việt Nam. Để thực hiện được điều này, chúng ta đã và sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, cũng như đang nắm trong tay không ít cơ hội.</p>
<p>Trở ngại lớn nhất mà chúng ta gặp phải chính là chất lượng nguồn nhân lực. Câu hỏi đặt ra là: liệu chúng ta đã sẵn sàng để tiếp cận công nghệ mới, tri thức mới? Thật khó mà khẳng định điều này, bởi lẽ thực trạng ngành giáo dục Việt Nam, nhất là giáo dục đại học, đang gặp nhiều vấn đề. Dễ nhận thấy nhất là các tiêu chí tốt nghiệp đối với sinh viên chưa được làm rõ một cách cụ thể. Điều này dẫn đến sản phẩm đầu ra của các cơ sở đào tạo phần nhiều là thiếu khả năng thích ứng với môi trường làm việc mới, hiện tượng tái đào tạo diễn ra khá phổ biến tại các cơ quan tuyển dụng. Đối với các cơ quan nghiên cứu, điều này cũng diễn ra khá thường xuyên. Có thể thấy rằng, những người mới tốt nghiệp, do ảnh hưởng từ phương pháp giảng dạy và học tập thụ động tại trường đại học, thường rất hạn chế trong khả năng tiếp cận nguồn thông tin, tri thức mới, không chủ động trong việc tự nghiên cứu để đào sâu và mở rộng kiến thức chuyên môn.</p>
<p>Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết được vấn đề này nếu có một chiến lược đào tạo hợp lý. Điều mà chúng ta cần làm là trang bị cho sinh viên tốt nghiệp những kỹ năng và kiến thức để làm chủ thế giới thông tin. Tức là giúp họ rèn luyện kỹ năng nhận dạng nhu cầu thông tin bản thân, định vị nguồn thông tin phù hợp với những nhu cầu đó, tổ chức nguồn thông tin tìm được một cách hợp lý, thẩm định nguồn thông tin đã được lựa chọn, và sử dụng thông tin đó một cách hiệu quả và hợp pháp. Có thể thấy rằng, những kiến thức và kỹ năng như trên không chỉ là thiếu đối với sinh viên mới tốt nghiệp, mà chúng có thể còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với công việc của người cán bộ nghiên cứu. Nói cách khác, người đi học cần được trang bị năng lực thông tin. Năng lực thông tin chính là chìa khóa quan trọng mở ra những cơ hội tri thức và nghề nghiệp cho mỗi cá nhân, góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục của đất nước.</p>
<p>Vậy, năng lực thông tin là gì? Vai trò của nó đối với các nhà nghiên cứu như thế nào? Có giải pháp gì để phát triển năng lực thông tin cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu? Đó cũng chính là những nội dung mà bài viết này mong muốn góp phần làm sáng tỏ.</p>
<p><strong>I. Khái niệm về Năng lực thông tin</strong></p>
<p>Thật ra, khái niệm về năng lực thông tin (Information literacy) đã được đề cập đến từ những năm 70 của thế kỷ trước. Sự xuất hiện của khái niệm này gắn liền với xu thế bùng nổ thông tin tại thời điểm đó. Các nhà khoa học, mà chủ yếu là các nhà giáo dục, các chuyên gia thông tin – thư viện, hết sức quan tâm đến một lĩnh vực tri thức giúp con người làm chủ thế giới thông tin, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại: đó chính là năng lực thông tin. Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới thông tin ngày càng trở nên phức tạp, nhất là hệ quả của sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của Internet.</p>
<p>Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viên nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), năng lực thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả”. McKie, trong tài liệu của Cheek và các tác giả khác (1995, tr. 2) đã khẳng định “năng lực thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời”</p>
<p>Cần hiểu rõ rằng năng lực thông tin không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, nó bao gồm cả những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định liên quan đến việc truy cập các nguồn thông tin. Đây có lẽ là mảng kiến thức cần phải được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ đang trở thành vấn đề toàn cầu.</p>
<p>Ngoài ra, năng lực thông tin gắn liền với khả năng nghiên cứu độc lập và học tập suốt đời. Có nghĩa là, người có năng lực thông tin là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình. Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989), người có năng lực thông tin là người “đã học được cách thức để học. Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ. Họ là những người được đã chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động.”</p>
<p>Như trên đã nói, sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho sự ra đời của khái niệm năng lực thông tin. Dễ dàng nhận thấy ngày nay việc xuất bản hoặc công bố một tài liệu dưới dạng in ấn hay điện tử đã trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ. Các nguồn thông tin nở rộ, đặc biệt là Internet, và thế giới thông tin trở nên hết sức phức tạp. Ưu điểm của điều này là việc người dùng tin có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận các nguồn tin hơn. Tuy nhiên, mặt trái của nó lại hết sức đáng ngại. Người dùng tin luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng tin cậy không? có phù hợp với vấn đề của họ không? phải tổ chức những nguồn thông tin đó như thế nào đây? Không dễ để trả lời những câu hỏi trên nếu như thiếu sự hiểu biết về thế giới thông tin, tức là thiếu năng lực thông tin.</p>
<p>Về mặt cấu trúc, có một sự tương đồng thú vị giữa các thành tố cấu thành năng lực thông tin với kiến thức, kỹ năng mà người cán bộ nghiên cứu cần phải có khi tiến hành công việc nghiên cứu. Nếu như năng lực thông tin là một tổng hòa của các khối tri thức và kỹ năng liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị nguồn tin, thẩm định nguồn tin, tổ chức nguồn tin, sử dụng nguồn tin thì quy trình nghiên cứu cũng phải trải qua những bước tương tự. Dưới đây là mô hình triển khai một nghiên cứu do William B. Badke (2004, tr. 6) đề xuất:</p>
<p><img class="aligncenter" src="http://researchland.net/vnl/wp-content/images/stories/articles/nckh.png" alt="nckh" width="563" height="271" /></p>
<p>Rõ ràng, trong quy trình như trên, dữ liệu, sau đó là thông tin, đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Người làm nghiên cứu cần có kỹ năng và kiến thức liên quan đến việc khai thác, phân tích và tổng hợp các nguồn thông tin để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của mình. Hiệu quả của việc nghiên cứu do đó chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng xác định vấn đề cần nghiên cứu, cũng như cách thức tương tác với thế giới thông tin của nhà nghiên cứu. Nói cách khác, nếu như được trang bị năng lực thông tin, nhà nghiên cứu sẽ chủ động và tích cực hơn trong hoạt động của mình.</p>
<p><strong>II. Vai trò của năng lực thông tin đối với những người làm công tác nghiên cứu khoa học</strong></p>
<p><strong>2.1. Đặc thù công việc của cán bộ nghiên cứu trong mối tương quan với năng lực thông tin.</strong></p>
<p>Một trong những đặc điểm quan trọng của người có năng lực thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của bản thân. Tức là họ dễ dàng xác định được vấn đề mình đang thực sự quan tâm, cũng như có thể phân tích, diễn đạt chúng thành các thuật ngữ tìm kiếm thông tin. Nói cách khác, họ phải làm chủ được lĩnh vực mình quan tâm và có khả năng trình bày các nội dung cụ thể. Đây có thể xem như là một lợi thế quan trọng của cán bộ nghiên cứu, những người đã trải qua các khóa học bài bản về phương pháp nghiên cứu, đồng thời họ là những chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, muốn có được một quyết định nghiên cứu đúng đắn, ngoài khả năng chuyên môn, nhà nghiên cứu cần phải có thông tin đầy đủ và khách quan về lĩnh vực mà mình muốn tìm hiểu. Kinh nghiệm bản thân khó mà đem lại cho họ hiệu quả cao trong hoạt động nghiên cứu. Họ cần có một công cụ để khai thác và sử dụng thông tin hiệu quả. Đó chính là năng lực thông tin.</p>
<p>Một đặc điểm nổi bật trong nghiên cứu khoa học ngày nay chính là xu thế liên ngành. Càng ngày, xu thế này càng thể hiện mạnh mẽ thông qua sự xuất hiện của hàng loạt lĩnh vực khoa học mới. Điều này khiến cho nhà nghiên cứu phải tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin khác nhau ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Công việc của họ ngày càng trở nên phức tạp hơn khi mà lượng thông tin đến với họ ngày càng lớn, nhất là những nguồn thông tin trực tuyến. Khi đó, nhà nghiên cứu sẽ phải đứng trước những câu hỏi như: giữa vô số những nguồn tin như thế, đâu là thông tin đáng tin cậy, thông tin có giá trị, và phù hợp với công việc của họ. Họ sẽ phải dành nhiều thời gian để xử lý thông tin, tổ chức và sử dụng chúng một cách hợp lý. Có thể nói, công việc của người làm nghiên cứu gắn bó hết sức chặt chẽ với kỹ năng khai thác, phân tích, đánh giá, tổng hợp, và sử dụng thông tin, nếu như không muốn nói đó mối quan hệ hữu cơ máu thịt, không thể tách rời. Điều này chứng minh cho sự cần thiết triển khai các chương trình đào tạo năng lực thông tin cho cán bộ nghiên cứu.</p>
<p>Một đặc điểm nữa của người làm công tác nghiên cứu: khả năng làm việc theo nhóm và làm việc độc lập. Tùy theo nhu cầu công việc cụ thể mà các khả năng này được phát huy một cách linh hoạt. Liên quan đến năng lực thông tin, khi làm việc theo nhóm, nhà nghiên cứu phải có khả năng chia sẻ thông tin, tổng hợp kiến thức, đồng thời tiếp cận những tri thức mới từ các cá nhân khác trong nhóm. Khi nghiên cứu độc lập, nhà nghiên cứu phải là người có khả năng quản lý và tổ chức thông tin hết sức khoa học để chuẩn bị cho những quyết định đúng đắn.</p>
<p>Có thể nói, là một trong số những đối tượng sử dụng thông tin nhiều nhất, thường xuyên nhất, các nhà nghiên cứu chính là những đối tượng cần phải được trang bị đầy đủ những kiến thức và kỹ năng thông tin.</p>
<p><strong>2.2. Vai trò của năng lực thông tin đối với cán bộ nghiên cứu</strong></p>
<p><em><strong>2.2.1. Làm chủ nguồn thông tin/sử dụng nguồn thông tin hiệu quả</strong></em></p>
<p>Không còn nghi ngờ gì nữa, năng lực thông tin chính là chìa khóa để mọi người nói chung và các nhà nghiên cứu nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại. Sự bùng nổ thông tin hiện nay đã khiến cho thế giới thông tin trở nên phức tạp và hỗn loạn. Làm thế nào để tìm ĐÚNG, tìm ĐỦ những thông tin mà mình cần, đồng thời sử dụng chúng một cách HIỆU QUẢ? Không khó để trả lời nếu như chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới thông tin.</p>
<p>Trên thực tế, đối với Việt Nam, tri thức nhân loại đã được sử dụng triệt để và hiệu quả chưa? Hơn ai hết, những người làm công tác nghiên cứu khoa học hiểu rõ điều này. Câu trả lời hợp lý nhất có lẽ là: nếu như những người làm công tác nghiên cứu khoa học được trang bị các kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc khai thác và sử dụng thông tin một cách bài bản và có hệ thống, chắc chắn những trăn trở như trên sẽ phần nào được giải đáp.</p>
<p><em><strong>2.2.2. Nâng cao đạo đức nghiên cứu/đạo đức nghề nghiệp</strong></em></p>
<p>Đây là vấn đề đã được đề cập khá nhiều trên các phương tiện truyền thông nhưng dường như nó vẫn là một vấn nạn khá phổ biến trong các hoạt động liên quan đến chất xám, đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Nguyên nhân sâu xa của điều này chính là do sự thiếu hiểu biết về cách thức tổ chức thông tin trong hoạt động nghiên cứu của người tham gia. Chưa nói đến hiện tượng đạo văn, chỉ riêng việc đưa tham chiếu về nguồn tài liệu tham khảo trong công trình nghiên cứu cũng đã có rất nhiều vấn đề. Hoặc là nhà nghiên cứu không có thông tin đầy đủ về các nguồn tài liệu đã được trích dẫn, hoặc là họ không biết tổ chức danh mục tài liệu theo đúng cách đã được quy định. Dù là vô tình hay cố ý, tất cả những cách làm trên chính là một sự vi phạm đạo đức nghiên cứu. Hơn ai hết, người làm công tác nghiên cứu càng phải chứng tỏ được việc sử dụng thông tin một cách hợp pháp luật, hợp đạo đức của mình. Năng lực thông tin giúp họ làm tốt được điều này. Quan trọng hơn cả, kiến thức này giúp cho nhà nghiên cứu có một thái độ nghiên cứu nghiêm túc, giúp họ tránh được những vi phạm liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghiên cứu. Và đó cũng chính là cơ sở để chúng ta tính tới vấn đề hội nhập và hợp tác bình đẳng với bạn bè quốc tế trên mặt trận nghiên cứu khoa học.</p>
<p><em><strong>2.2.1. Tăng cường hiệu quả trong nghiên cứu khoa học</strong></em></p>
<p>Chúng ta lí giải như thế nào về thực trạng có khá nhiều công trình và đề tài nghiên cứu thuộc đủ các cấp có tính khả thi rất thấp? Có phải là do nội dung nghiên cứu đã quá lỗi thời, quá giáo điều, không sát thực tế? Có phải do dữ liệu phục vụ nghiên cứu không toàn diện và cập nhật? Có phải do phương pháp nghiên cứu thiếu tính khoa học? Hãy bắt đầu thử lí giải ba nguyên nhân trên trong số rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Việt Nam.</p>
<p>Trước hết: nội dung nghiên cứu đã quá lỗi thời, quá giáo điều, không sát thực tế. Nếu như chưa đề cập tới khả năng chuyên môn thì nguyên nhân chính dẫn tới điều này là do nhà nghiên cứu đã không có sự chuẩn bị chu đáo về mặt thông tin khi bắt tay vào nghiên cứu. Thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch chắc chắn sẽ dẫn tới những quyết định phiến diện hoặc sai lệch trong nghiên cứu và phát triển ứng dụng. Do đó, kỹ năng khai thác, thẩm định và tổng hợp thông tin đóng vai trò quyết định. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của năng lực thông tin đối với một công đoạn đặc biệt quan trọng của quy trình nghiên cứu: xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu.</p>
<p>Thứ hai: dữ liệu phục vụ nghiên cứu không toàn diện và cập nhật. Điều này có thể hiểu như sau: khi mà luận chứng, luận cứ nghiên cứu chỉ dựa trên những nguồn tin không đầy đủ, lỗi thời hoặc một chiều, chắc chắn kết quả nghiên cứu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Năng lực thông tin giúp nhà nghiên cứu giải quyết được điều này thông qua những chiến lược tìm kiếm thông tin hợp lý, cách thức sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin một cách linh hoạt, các phương pháp thẩm định thông tin khách quan và khoa học, cũng như khả năng tổ chức thông tin chặt chẽ. Nguồn thông tin đầy đủ, đa chiều, và có chất lượng sẽ giúp nhà nghiên cứu đưa ra những luận cứ khoa học có tính khách quan và khả thi rất cao.</p>
<p>Thứ ba: phương pháp nghiên cứu thiếu tính khoa học. Đây là nguyên nhân sâu xa của mọi nguyên nhân. Phương pháp được thể hiện từ việc lựa chọn đề tài, xây dựng chiến lược nghiên cứu, thu thập thông tin, xử lý thông tin, tổng hợp thông tin, và đưa ra những đề xuất, cải tiến dựa trên chính những thông tin đó. Bất kỳ một sai lầm nào trong số những bước chính như trên đều dẫn tới những kết quả nghiên cứu không như ý muốn. Như trên đã đề cập, người có năng lực thông tin là người đã “học được cách thức học”. Tức là nắm được phương pháp nghiên cứu.</p>
<p>Rõ ràng, cả ba nguyên nhân cơ bản và phổ biến như trên đều xuất phát từ một nguồn gốc: cách thức tiếp cận và giải quyết bài toán về thông tin. Hiển nhiên, năng lực thông tin chính là mẫu số chung cho các lời giải của bài toán đó.</p>
<p><strong>III. Những kiến nghị, đề xuất nhằm phát triển năng lực thông tin đối với cán bộ nghiên cứu</strong></p>
<p>Có thể nói, cán bộ nghiên cứu là những người dùng tin đặc biệt. Bởi lẽ họ là những chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể. Khả năng tự nắm bắt nhu cầu thông tin của họ là khá cao. Họ cũng là người đã định hình được hành vi thông tin (tìm kiếm và sử dụng thông tin) rất rõ nét. Điều này không có nghĩa là đã đủ để họ trở thành người có hiểu biết về thông tin. Và, sẽ là không phù hợp nếu như áp dụng cứng nhắc các hình thức phát triển năng lực thông tin dùng trong các trường đại học đối với đối tượng này. Theo chúng tôi, hướng tiếp cận sẽ là: nâng cao chất lượng nguồn thông tin, tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn về kỹ năng khai thác và tổ chức thông tin, đồng thời tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế để cán bộ nghiên cứu có điều kiện trao đổi, học hỏi các đồng nghiệp quốc tế về phương pháp nghiên cứu.</p>
<p><em><strong>3.1. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nguồn tư liệu</strong></em></p>
<p>Đây điều kiện vừa để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học, vừa là chất xúc tác để phát triển năng lực thông tin trong đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Lí do là: nếu như nguồn tư liệu hỗ trợ nghiên cứu phong phú và đầy đủ, cán bộ nghiên cứu sẽ có điều kiện để triển khai các công trình có chất lượng và tính khả thi (như trên đã phân tích). Điều này cũng sẽ tác động rất tích cực đến thói quen sử dụng thông tin của các nhà nghiên cứu, đơn giản là vì họ đã thấy được lợi ích thiết thực từ việc sử dụng thư viện và các tài nguyên của nó. Trên thực tế, sự nghèo nàn thông tin tại các cơ quan thông tin thư viện thuộc các cơ quan nghiên cứu khoa học cũng là một trong những nguyên nhân kéo theo sự cẩu thả và thiếu chính xác trong không ít công trình nghiên cứu.</p>
<p>Một điều nữa không thể không nói đến, đó là xu thế hiện đại hóa trong hệ thống thư viện Việt Nam hiện nay. Đây là một tín hiệu đáng mừng, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ. Nguy cơ lớn nhất là việc chúng ta đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị mà ít quan tâm đến nâng cấp chất lượng nguồn thông tin, các dịch vụ thư viện, và nhất là công tác chăm sóc khách hàng (bạn đọc). Nếu cứ để điều này tiếp tục diễn ra, chẳng bao lâu nữa thư viện sẽ khó mà thu hút được đối tượng người dùng tin đặc biệt này. Hiệu quả nghiên cứu khoa học do đó mà bị ảnh hưởng đáng kể.</p>
<p><em><strong>3.2. Các khóa đào tạo về kỹ năng khai thác và tổ chức thông tin</strong></em></p>
<p>Chắc chắn đây là điều nên làm trong một tương lai gần. Có thể nói, kỹ năng khai thác, thẩm định, và tổ chức thông tin được xem như là chìa khóa để bước vào thế giới thông tin. Cán bộ nghiên cứu có thể đã rất thành thạo trong việc xác định nội dung và phạm vi nghiên cứu, nhưng những kỹ năng như trên thì họ ít có điều kiện để lĩnh hội một cách có hệ thống và đầy đủ. Chắc chắn cho tới lúc này, chưa một trường đại học nào ở Việt Nam triển khai một chương trình có tính hệ thống và toàn diện về phát triển năng lực thông tin trong sinh viên. Đó cũng chính là lí do giải thích vì sao khả năng thích ứng với môi trường làm việc của sinh viên mới tốt nghiệp không cao. Do đó, việc triển khai trang bị những nội dung này cho cán bộ nghiên cứu là đặc biệt cần thiết.</p>
<p>Vậy nội dung của những chương trình đó là gì? Triển khai nó như thế nào? Trước hết, phải khẳng định những mảng kiến thức sau nên được chú ý: chiến lược tìm kiếm thông tin, sử dụng các công cụ tìm tin, thẩm định nguồn tin tìm được, và tổ chức các thông tin đó trong từng hoạt động nghiên cứu cụ thể. Để làm được điều này, các viện nghiên cứu nên có sự phối kết hợp với các cơ sở đào tạo ngành thông tin – thư viện, cũng như cần có sự quan tâm đặc biệt đến phát triển nguồn lực thông tin tại đơn vị mình. Năng lực thông tin đang là lĩnh vực được nhiều chuyên gia thông tin – thư viện hết sức quan tâm, thậm chí đã và đang trở thành một xu hướng phát triển tích cực của ngành thông tin – thư viện. Việc triển khai nên thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn, đối tượng tham gia trước hết dĩ nhiên là các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, không thể bỏ qua một đối tượng đặc biệt quan trọng: đó là cán bộ thư viện tại các thư viện viện nghiên cứu. Về lâu dài, họ chính là đội ngũ đảm bảo năng lực thông tin cho chính cơ sở nghiên cứu đó.</p>
<p><em><strong>3.3. Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế</strong></em></p>
<p>Mục đích hết sức quan trọng của vấn đề này là: từng bước đổi mới tư duy nghiên cứu trong cán bộ nghiên cứu khoa học Việt Nam. Chúng ta đều biết môi trường đào tạo của các nước phương Tây là một môi trường hết sức cởi mở và linh hoạt. Triết lý giáo dục của họ là lấy sinh viên làm trung tâm, thông qua các hình thức giảng dạy dựa trên tài nguyên thông tin (resource-based learning) và học theo phương pháp “giải quyết vấn đề” (problem-solving based learning). Tất cả những phương pháp học tập trên đòi hỏi người học viên phải có tính tự lập cao trong nghiên cứu, khả năng tương tác một cách hết sức linh hoạt và chủ động với các nguồn thông tin. Chính điều này đã tạo ra một lực lượng lao động, trong đó có các nhà nghiên cứu khoa học, có sự hiểu biết rất sâu sắc về thông tin, có khả năng làm việc hết sức sáng tạo và hiệu quả. Chưa kể đến hiệu quả về mặt kinh tế và khoa học, việc hợp tác nghiên cứu quốc tế sẽ là điều kiện tốt để các nhà khoa học Việt Nam cập nhật thêm những kiến thức mới về phương pháp nghiên cứu và năng lực thông tin.</p>
<p><em><strong>IV. Kết luận</strong></em></p>
<p>Cách đây hơn một thập kỷ, cựu thủ tướng Malaysia – Mahathir Mohamed- đã cho rằng không có một quốc gia nào giàu mà lại nghèo thông tin và tri thức, cũng như không có quốc gia nào giàu thông tin, tri thức mà lại nghèo. Vấn đề giàu hay nghèo thông tin ở đây không nằm trong phạm trù quốc gia đó đang lưu trữ bao nhiêu sách hay các vật mang tin khác. Mà vấn đề mấu chốt là chúng ta làm chủ nguồn thông tin đó như thế nào? sử dụng nguồn thông tin đó ra sao? Rõ ràng, để trở thành một quốc gia có nền kinh tế và khoa học phát triển, chúng ta nên chú ý tới lĩnh vực tri thức còn khá mới mẻ này. Đối với những nhà nghiên cứu, lực lượng lao động đặc biệt quan trọng có khả năng tạo những đột biến tích cực cho nền kinh tế xã hội, năng lực thông tin cần sớm được phát triển một cách rộng rãi và mạnh mẽ.</p>
<p><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p>
<p>ACRL (1989) Presidential committee on information literacy. Final report, truy cập ngày 15/6/2005, truy cập tại &lt;http://www.ala.org/ala/acrl/acrlpubs/whitepapers/presidential.htm&gt;</p>
<p>ACRL (2000) Information Literacy Competency Standards for Higher Education, Chicago, Association of College and Research Libraries.</p>
<p>Badke, W.B. (2004) Research Strategies: finding your way through the information fog, New York, Lincoln, Shanghai: iUniverse Inc.</p>
<p>Bundy, A. (2001) For a clever country: information literacy diffusion in the 21st century, truy cập ngày 20/6/2005, truy cập tại &lt;http://www.library.unisa.edu.au/about/papers/clever.htm&gt;</p>
<p>Cheek, J. e. a. (1995) Finding out: information literacy for the 21st century, Melbourne, McMillan Education Australia.</p>
<p><em><strong>ThS. Nghiêm Xuân Huy</strong></em></p>
<p><em><strong>ĐH KH XH &amp; NV, ĐHQG Hà Nội</strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=1103</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mạng xã hội Google+, có gì hay ho không?</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=506</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=506#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 24 Oct 2011 12:50:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Featured]]></category>
		<category><![CDATA[Góc công nghệ]]></category>
		<category><![CDATA[Google+]]></category>
		<category><![CDATA[mạng xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Tổng quan]]></category>
		<category><![CDATA[Xu thế công nghệ]]></category>
		<category><![CDATA[đánh giá]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://mang-xa-hoi-google-co-gi-hay-ho-khong</guid>
		<description><![CDATA[Google+, có gì hay ho không? Review đôi dòng để một số bạn giải tỏa ức chế vì … tò mò. Đây là những review còn mang tính chủ quan của một người mới dùng được Google (G+) chưa đầy &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=506">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p id="post-381" class="post_name"><img class="alignleft size-full wp-image-507" title="overview_icons-300x112" src="http://infolit.vietnamlib.net/wp-content/uploads/2011/10/overview_icons-300x1121.png" alt="" width="300" height="112" />Google+, có gì hay ho không? Review đôi dòng để một số bạn giải tỏa ức chế vì … tò mò. Đây là những review còn mang tính chủ quan của một người mới dùng được Google (G+) chưa đầy … 1 ngày.</p>
<p><strong>– Circles: </strong>cái này FB cũng đã có (ở dạng friend group) nhưng dường như không được coi là nền tảng của kết nối và chia sẻ. G+ lấy circle là trung tâm. Circle được tùy biến tạo ra theo chủ quan của người dùng, nhưng G+ có những gợi ý ban đầu khá chuẩn xác để mọi người tạo circle. Việc chia sẻ sẽ diễn ra giữa chủ nhân profile và các circles mà anh ta tạo ra. Chỉ những người trong circles được chia sẻ mới truy cập được các nội dung do chủ nhân profile chia sẻ (chứ không phải cái gì có trên wall của bạn thì bạn của bạn – theo mặc định – cũng đọc được như ở FB)</p>
<p>- <strong> Hangouts</strong>: cho phép video chat theo nhóm (tối đa 10 người). Mình chưa hình dung được công nghệ mà G+ dùng ở đây, chuyện gì sẽ xảy ra nếu vài (chục) triệu người cùng hangouts? Có nhẽ nào G+ dùng công nghệ kiểu như Skype (tương tác trực tiếp giữa các máy trạm)? Món video chat theo nhóm trên Skype phải trả phí, còn G+ thì free, hay à nha <img class="wp-smiley" src="http://nghiemhuy.researchland.net/wp-includes/images/smilies/icon_razz.gif" alt=":P" /> . Mình đang tưởng tượng sau này có thể dùng G+ để hỗ trợ việc tổ chức e-learning hoặc các conference giữa các nhóm bạn bè có chung quan tâm học thuật hay sở thích. Mình nghĩ có thể FB rồi cũng làm được việc này nhờ đã có mối quan hệ với Skype, nhưng nếu đưa dịch vụ này vào thì Skype cũng bị mất đi một ít bánh.</p>
<p>Hiện giai đoạn thử nghiệm chưa thấy dịch vụ text chat là <em><strong>Huddles</strong></em>. Về món text chat thì FB cũng đã có, nhưng chưa cho phép chát theo nhóm, mà đây lại là cái mà G+ “xoáy” vào.</p>
<p>Như thế, ở góc độ “Mạng  xã hội” mà nói, G+ có vẻ sẽ làm tốt thiên chức “tương tác xã hội” mà một mạng xã hội cần phải có. Trước mắt, mình cho rằng đây là cái “đinh”, là điểm thắng thế của G+ so với FB</p>
<p>- <strong>Sparks</strong>: cái này rất thú vị. Kiểu như bạn thông báo cho Google các interests (mối quan tâm của bạn) bằng các keyword, Sparks sẽ lục lọi trên Internet dựa trên các keyword đó. Click vào interest nào, bạn có 1 list bài tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau (và mình đoán là sự tập hợp đó dựa trên độ hot của các bài được chọn), đa chiều và đa dạng. Thú vị hơn nữa, bạn có thể share những link hay cho 1 người cụ thể hoặc các circle có cùng mối quan tâm. Thú vị nữa (như đã nói ở trên) là những ai không ở trong circle hoặc ko được chia sẻ thì sẽ không đọc được nội dung đó, tính riêng tư như thế là ổn đấy chứ? Rõ ràng, sparks là một điểm rất mới của G+ so với FB, lại phát huy được sở trường tìm kiếm của Google Search.</p>
<p>- Dịch vụ tích hợp: G+ có thể sống khỏe nhờ việc sẽ được tích hợp với hàng loạt dịch vụ mạnh mẽ và chất lượng mà Google đang sở hữu như Search, Youtube, Picasa, Reader, Docs, Shopping ….,</p>
<p><strong>NGUY CƠ </strong>dễ nhìn thấy nhất khi chuyển sang G+ là bạn sẽ bị “kiểm soát” mọi hành vi thông tin trên Internet. Tìm tin (qua GG search, Reader), chia sẻ media (qua Youtube, Picasa), làm việc (Google Docs), mua sắm (Google Shopping), và nhiều thứ khác nữa. Nói “kiểm soát” thì hơi to tát, nhưng quả thực cũng sẽ có những nguy cơ vĩ mô khi có quá nhiều người phụ thuộc hoàn toàn vào một (nhóm) dịch vụ của một công ty. Món này cụ thể thế nào mình chưa đủ năng lực và thời gian để bàn ở đây. Nhưng dù gì, hiện tại vẫn là mối quan hệ win-win. Ok, bạn (Google) cung cấp cho tớ các dịch vụ free và chất lượng, tớ (người dùng) sẵn sàng chia sẻ cho bạn thông tin của tớ ở một mức độ thầm kín mà tớ có thể kiểm soát được. Nhờ đó, bạn đễ bán hàng (quảng cáo, tư vấn …), còn tớ có công cụ sống và làm việc tốt.</p>
<p>Ba hoa tí thế, mọi người chia sẻ thêm nhé. Có thể có những thông tin chưa chuẩn xác do thiếu hiểu biết cả FB lẫn G+, so sorry.</p>
<p>À, ai chưa nhận được G+ invitation thì PM cho Huy nhé, sẽ gửi ngay khi có thể.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=506</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Google search</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=359</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=359#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 06 Jun 2011 23:56:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Learning resources]]></category>
		<category><![CDATA[Materials for practising]]></category>
		<category><![CDATA[Google search]]></category>
		<category><![CDATA[information skills]]></category>
		<category><![CDATA[retrieval skills]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://google-search</guid>
		<description><![CDATA[Let&#8217;s explore how to work with Google search tools effectively and efficiently. These materials are introduced publicly by Google Librarian Center with the aim at helping people to find their needed information by working with tools such as: Google Search, &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=359">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_1084" class="wp-caption alignleft" style="width: 410px"><a href="http://infolit.vietnamlib.net/wp-content/uploads/2011/06/har13284949411.jpg"><img class="size-full wp-image-1084" title="Google" src="http://infolit.vietnamlib.net/wp-content/uploads/2011/06/har13284949411.jpg" alt="" width="400" height="300" /></a><p class="wp-caption-text">Google search</p></div>
<p>Let&#8217;s explore how to work with Google search tools effectively and efficiently. These materials are introduced publicly by Google Librarian Center with the aim at helping people to find their needed information by working with tools such as: Google Search, Google Scholar, Google Book, and Google Earth.</p>
<p>All those useful materials can be found here: <a href="http://www.google.com/librariancenter/librarian_tools.html">http://www.google.com/librariancenter/librarian_tools.html</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=359</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm kiếm thông tin với Google</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=354</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=354#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 06 Jun 2011 23:42:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Học liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Google+]]></category>
		<category><![CDATA[kỹ năng thông tin]]></category>
		<category><![CDATA[thủ thuật]]></category>
		<category><![CDATA[tìm kiếm thông tin]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tim-kiem-thong-tin-voi-google</guid>
		<description><![CDATA[Google là công cụ tìm kiếm thông tin phổ biến nhất hiện nay trên Internet. Tuy nhiên, giữa thế giới thông tin đa dạng và phong phú, tìm được cho mình những nguồn tin phù hợp với nhu cầu bản &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=354">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://nghiemhuy.researchland.net/files/2011/06/google-stones1.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-356" title="google-stones" src="http://nghiemhuy.researchland.net/files/2011/06/google-stones1-300x236.jpg" alt="" width="300" height="236" /></a>Google là công cụ tìm kiếm thông tin phổ biến nhất hiện nay trên Internet. Tuy nhiên, giữa thế giới thông tin đa dạng và phong phú, tìm được cho mình những nguồn tin phù hợp với nhu cầu bản thân là việc làm ai cũng cần hướng tới. Với mong muốn giúp cộng đồng sử dụng Google một cách hiệu quả và tối ưu, VietnamLib trân trọng giới thiệu bộ tài liệu hướng dẫn những kỹ thuật cơ bản (nhưng người dùng rất dễ bỏ qua) khi thực hiện tìm kiếm thông tin trên Google. Bộ tài liệu này gồm 4 file PDF được dịch từ nguyên bản tại địa chỉ &lt;http://www.google.com/librariancenter/librarian_tools.html&gt; , với các nội dung chính sau đây:</p>
<p>- Các kỹ thuật và mẹo tìm kiếm thông tin cơ bản trên Google Search (http://www.google.com)</p>
<p>- Các kỹ thuật và mẹo tìm kiếm thông tin học thuật trên Google Scholar (http://scholar.google.com)</p>
<p>- Các kỹ thuật và mẹo tìm kiếm sách/bài tạp chí/giáo trình trên Google Books (http://books.google.com)</p>
<p>Bạn đọc có thể download về và in các tài liệu này ra để sử dụng như một dạng sổ tay (tổng số 04 trang). VietnamLib cũng khuyến cáo các thư viện hoặc các trường đại học, nếu thấy cần thiết, có thể in những tài liệu này và dán cạnh các máy tính có kết nối Internet ở đơn vị mình, nhằm giúp bạn đọc và người học có thể sử dụng công cụ tìm kiếm Google một cách hiệu quả nhất.</p>
<p>VietnamLib chân thành cảm ơn sự động viên và mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của cộng đồng để ngày càng đóng góp có ích hơn nữa cho sự phát triển của nghề nghiệp và sự nghiệp giáo dục – đào tạo ở Việt Nam</p>
<p>Xin mời download tài liệu ở file đính kèm:<strong> <a href="http://vietnamlib.net/attachments/288_1.%20MeotimkiemtrenGoogle.pdf">File 1</a>; <a href="http://vietnamlib.net/attachments/288_2.%20timkiemthongtinhocthuat.pdf">Flie 2</a>; <a href="http://vietnamlib.net/attachments/288_3.%20Cacbuoctimkiemsach.pdf">File 3</a>; <a href="http://vietnamlib.net/attachments/288_4.%20Timkiemsachfulltext.pdf">File 4</a></strong></p>
<p style="text-align: right;">Nguồn: VietnamLib.NET ( <a href="http://vietnamlib.net/day-va-hoc/huong-dan-tim-kiem-thong-tin-tren-google">http://vietnamlib.net/day-va-hoc/huong-dan-tim-kiem-thong-tin-tren-google</a> )<strong></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=354</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>The Alexandria Proclamation on Information Literacy and Lifelong Learning</title>
		<link>http://infolit.vietnamlib.net/?p=328</link>
		<comments>http://infolit.vietnamlib.net/?p=328#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 01 Jun 2011 13:30:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nghiêm Xuân Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Instruction materials]]></category>
		<category><![CDATA[News and events]]></category>
		<category><![CDATA[Theories of information literacy development]]></category>
		<category><![CDATA[Alexandra Proclamation]]></category>
		<category><![CDATA[concept]]></category>
		<category><![CDATA[lifelong learning]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://the-alexandria-proclamation-on-information-literacy-and-lifelong-learning</guid>
		<description><![CDATA[Celebrating this week&#8217;s confirmation of the site of the Pharos of Alexandria, one of the ancient wonders of the world, the participants in the High Level Colloquium on Information Literacy and Lifelong Learning held at the Bibliotheca Alexandrina on 6-9 &#8230; <a href="http://infolit.vietnamlib.net/?p=328">Continue reading <span class="meta-nav">&#8594;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_250" class="wp-caption alignleft" style="width: 310px"><a href="http://nghiemhuy.researchland.net/files/2011/05/ALEXANDRA.jpg"><img class="size-full wp-image-250 " title="ALEXANDRA-300x199" src="http://nghiemhuy.researchland.net/files/2011/05/ALEXANDRA-300x199.jpg" alt="" width="300" height="199" /></a><p class="wp-caption-text">Current Alexandra Library</p></div>
<p>Celebrating this week&#8217;s confirmation of the site of the Pharos of Alexandria, one of the ancient wonders of the world, the participants in the High Level Colloquium on Information Literacy and Lifelong Learning held at the Bibliotheca Alexandrina on 6-9 November 2005 proclaim that information literacy and lifelong learning are the beacons of the Information Society, illuminating the courses to development, prosperity and freedom.</p>
<p>Information Literacy lies at the core of lifelong learning. It empowers people in all walks of life to seek, evaluate, use and create information effectively to achieve their personal, social, occupational and educational goals. It is a basic human right in a digital world and promotes social inclusion of all nations.</p>
<p>Lifelong learning enables individuals, communities and nations to attain their goals and to take advantage of emerging opportunities in the evolving global environment for shared benefit. It assists them and their institutions to meet technological, economic and social challenges, to redress disadvantage and to advance the well being of all.</p>
<p><strong>Information literacy</strong></p>
<ul>
<li>comprises the competencies to recognize information needs and to locate, evaluate, apply and create information within cultural and social contexts;</li>
<li>is crucial to the competitive advantage of individuals, enterprises (especially small and medium enterprises), regions and nations;</li>
<li>provides the key to effective access, use and creation of content to support economic development, education, health and human services, and all other aspects of contemporary societies, and thereby provides the vital foundation for fulfilling the goals of the Millennium Declaration and the World Summit on the Information Society; and</li>
<li>extends beyond current technologies to encompass learning, critical thinking and interpretative skills across professional boundaries and empowers individuals and communities.</li>
</ul>
<p>Within the context of the developing Information Society, we urge governments and intergovernmental organizations to pursue policies and programs to promote information literacy and lifelong learning. In particular, we ask them to support</p>
<ul>
<li>regional and thematic meetings which will facilitate the adoption of information literacy and lifelong learning strategies within specific regions and socioeconomic sectors;</li>
<li>professional development of personnel in education, library, information, archive, and health and human services in the principles and practices of information literacy and lifelong learning;</li>
<li>inclusion of information literacy into initial and continuing education for key economic sectors and government policy making and administration, and into the practice of advisors to the business, industry and agriculture sectors;</li>
<li>programs to increase the employability and entrepreneurial capabilities of women and the disadvantaged, including immigrants, the underemployed and the unemployed; and</li>
<li>recognition of lifelong learning and information literacy as key elements for the development of generic capabilities which must be required for the accreditation of all education and training programs.</li>
</ul>
<p>We affirm that vigorous investment in information literacy and lifelong learning strategies creates public value and is essential to the development of the Information Society.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Adopted in Alexandria, Egypt at the Bibliotheca Alexandrina on 9 November 2005.</em></p>
<p style="text-align: right;"><em>Source: </em>http://archive.ifla.org/III/wsis/BeaconInfSoc.html</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://infolit.vietnamlib.net/?feed=rss2&#038;p=328</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
